Công giáoTài liệu Công giáo

44 động vật trong Kinh Thánh

Kính

1. Con kiến

Kiến là một loài sinh vật nhỏ bé, nhưng rất khôn ngoan. Kinh Thánh cho chúng ta biết loài côn trùng này không có con đầu đàn, nhưng là một tập hợp của rất nhiều Kiến thợ làm việc bận rộn. Loài Kiến thu gom thức ăn trong suốt mùa hè, sau đó dự trữ để sử dụng trong mùa đông.

44 động vật trong kinh thánh - con kiến

Kiến là loài động vật rất phổ biến ở thời Kinh Thánh cũng như ngày nay. Hai loại phổ biến nhất là Kiến đen và Kiến nâu.

Kiến là loài sống bầy đàn. Thành phần chủ yếu trong mỗi đàn là Kiến thợ. Kiến thợ là kiến cái.

Kiến chúa đẻ trứng, còn Kiến thợ chăm sóc Kiến chúa và Kiến con.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng những người lười biếng có thể học được bài học từ loài Kiến, bởi vì loài Kiến làm việc rất chăm chỉ.

Cn 6, 6-8: “Hỡi người biếng nhác, hãy đến xem loài kiến sống thế nào và nhờ đó mà trở nên khôn. Nó chẳng có thủ trưởng, chẳng có giám sát, chẳng có lãnh đạo. Nhưng mùa khô đến, chúng biết tích trữ thức ăn, tới mùa gặt, chúng thu gom lương thực”.

2. Con rắn mào

Rắn Mào là một loài tương tự như rắn Hổ Mang. Giống như Hổ Mang, đây là một loài rắn độc. Chúng được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Loài rắn này sống trong các hang hốc dưới mặt đất. Nọc độc (hoặc chất độc) của chúng phản ứng rất nhanh và ảnh hưởng đến hệ thần kinh của nạn nhân. Rắn Mào ăn các loài chim nhỏ và cóc.

44 động vật trong kinh thánh - con rắn mào

Loài rắn này là một loài hiểm ác. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng những kẻ gian ác giống như Rắn Mào, bởi vì họ nói dối, và những điều xấu xa mà họ nói cũng tệ hại như chất độc của Hổ Mang.

Rm 3, 13: “Cửa họng chúng như nấm mồ mở rộng, khéo đẩy đưa ba tấc lưỡi phỉnh phờ, chúng chứa đầy mồm nọc độc hổ mang”.

3. Con ngân thử

Kinh Thánh cho chúng ta biết Ngân Thử là một con vật khôn ngoan. Chúng không lớn, nhưng biết làm nơi để sinh sống, trú ẩn trong hốc đá.

44 động vật trong kinh thánh - con ngân thử

Ngân Thử có đôi chân ngắn và khỏe, với các ngón chân được tạo ra để đào hang dưới đất. Chúng trông giống như một con chồn, là loài sinh sống và săn mồi vào ban đêm. Bộ lông của một con Ngân Thử rất có giá trị trong thời Kinh Thánh. Da của chúng được dùng làm lễ vật dâng lên Chúa và cũng được dùng để làm giày dép.

Ngân Thử ăn thịt chuột và các loài gây hại khác. Khuôn mặt của chúng trông giống như mặt của gấu trúc Mỹ. Chúng cũng là loài động vật nhút nhát, nhưng có thể rất mạnh mẽ và hung ác khi bị dồn vào đường cùng.

Cn 30, 26: “Loài ngân thử là đám dân nhược tiểu, nhưng lại biết làm nhà nơi hốc đá.”

4. Con tắc kè

Tắc Kè Hoa là một loại Thằn Lằn (thuộc họ bò sát), và được coi là một trong những loài động vật “ô uế”. Cựu Ước cho chúng ta biết rằng một số loài sinh vật bị coi là ô uế, và bị cấm, không được phép ăn.

44 động vật trong kinh thánh - con tắc kè

Tắc Kè Hoa là một loại thằn lằn nhỏ (có lẽ dài tới hơn một feet). Chúng tự bảo vệ mình bằng cách thay đổi màu sắc. Chúng sẽ chuyển sang màu xanh lục nếu ở trong môi trường bãi cỏ hoặc đám cây cối, và sẽ chuyển sang màu nâu nếu sống trong đá, cát hoặc sa mạc.

Có hơn 80 loại Tắc Kè Hoa. Loài vật này có cổ rất ngắn và không thể quay đầu. Thay vào đó, mắt của chúng có khả năng di chuyển riêng biệt với nhau, cho phép chúng nhìn từ bên này sang bên kia. Chúng cũng có một chiếc lưỡi rất dài, giúp chúng bắt gọn con mồi.

Lv 11,30: “tắc kè, kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, thạch sùng.”

5. Con hươu / nai

Có một số loại khác nhau thuộc họ hươu, nai được đề cập đến trong Kinh Thánh đó là: hươu, nai, hoẵng, linh dương hoặc sơn dương.

44 động vật trong kinh thánh - con huou nai

Vào thời Cựu Ước, có một vị vua nổi tiếng khôn ngoan và giàu có là vua Salômôn. Đức Chúa hài lòng về vua Salômôn và ban cho ông nhiều sự khôn ngoan. Ông có một vương quốc rất rộng lớn, và cần nhiều nguồn cung cấp cho bữa ăn mỗi ngày. Sách Các Vua quyển thứ nhất trong chương 5 câu 2 và 3 cho chúng ta biết rằng, vua Salômôn cần Hươu và Nai mỗi ngày để giúp cung cấp thức ăn cho nhiều người trong vương quốc của ông. Vì vậy chúng ta biết Hươu, Nai thường bị săn bắt vào thời Kinh Thánh.

1V 5,2: “Thực phẩm cung cấp cho vua Salômôn mỗi ngày là: sáu trăm thùng tinh bột, một ngàn hai trăm thùng bột thường, mười con bò thịt và hai mươi con bò nuôi, một trăm con cừu, không kể nai, linh dương, sơn dương và chim gáy béo để ăn thịt.”

6. Con chim bồ câu

Bồ Câu là loài chim quan trọng nhất trong thời Kinh Thánh. Từ trên tàu, Noah thả một con chim Bồ Câu để đi tìm dấu hiệu đầu tiên của đất liền sau khi nước lụt đã rút bớt.

44 động vật trong kinh thánh - con chim bồ câu

Chim Bồ Câu là loài được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chúng là một loài chim nhỏ, sống ở trên mặt đất hoặc trên cây, và chúng ăn hạt, trái cây và côn trùng. Chim Bồ Câu có thể bay khoảng cách rất xa. Chúng tạo ra âm thanh gù gù. Chúng thường sống trong tổ và bụi rậm.

Chim Bồ Câu được sử dụng trong thời Kinh Thánh để hiến tế (dâng cúng) trên bàn thờ. Những con chim này được giữ với số lượng lớn trong các đền thờ vì chúng thường được sử dụng để hiến tế.

Chim Bồ Câu là biểu tượng cho Chúa Thánh Thần. Chúng là một loài chim hiền lành, và đại diện cho sự hiền dịu của Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần là Đấng Ủi An, mà Thiên Chúa đã hứa Người sẽ gửi đến để giúp đỡ chúng ta.

Tv 55,7: Con tự nhủ: “Phải chi được đôi cánh bồ câu, để bay bổng tìm nơi an nghỉ!”

7. Con chim đại bàng

Từ xa xưa Đại Bàng đã được coi là loài chim mạnh mẽ và dũng cảm. Đại Bàng có chân và bàn chân cứng cáp. Chúng có các ngón chân dài với móng cong, được gọi là móng vuốt. Đại Bàng là một loài chim nhanh nhẹn. Chúng có thể bay rất cao, có thể làm tổ ở những nơi cao, không thể dễ gì tiếp cận được.

44 động vật trong kinh thánh - con chim đại bàng

Trong thời Kinh Thánh, Đại Bàng là biểu tượng của đức tin mạnh mẽ. Bởi vì chúng là loài chim được mọi người nghĩ đến với các đặc tính: mạnh mẽ, dũng cảm và tốt với con non.

Đại Bàng sống ở những vùng núi đá cao. Chúng cẩn thận dạy dỗ và chăm sóc những con non của chúng. Đại Bàng cõng con non trên đôi cánh của chúng khi dạy các con bay. Bằng cách này, Đại Bàng non được bảo vệ khỏi bị rơi từ trên cao, trước khi chúng có thể tự bay dễ dàng.

Có một số chỗ trong Kinh Thánh nói về sự mau lẹ (nhanh nhẹn) của Đại Bàng. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy Đại Bàng là loài chim ô uế, không được phép ăn thịt. Đại Bàng đầu hói là hình ảnh biểu tượng trên Đại ấn của Hoa Kỳ. Cũng giống như đối với những người trong thời Kinh thánh, đối với người Mỹ, Đại Bàng là biểu tượng của sức mạnh và lòng dũng cảm.

Tv 103,5: “Ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.”

8. Con ruồi

Ruồi là một loài côn trùng có hai cánh. Có khoảng 80.000 loại Ruồi khác nhau và chúng có thể được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới. Chúng thích những nơi ấm áp. Chúng có sáu chân, và có thể bám vào hầu hết mọi bề mặt. Vd: Con Ruồi có thể đi lộn ngược trên trần nhà.

44 động vật trong kinh thánh - con ruồi

Ruồi phá hoại mùa màng, và cũng mang theo nhiều dịch bệnh. Vào thời Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã gây nạn dịch ruồi nhặng với dân Ai Cập, vì họ không cho Môsê và dân tộc của ông (là dân Israel) ra khỏi Ai Cập.

Trong Sách Giảng Viên, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Ruồi chết gây ra mùi hôi thối.

Xh 8, 17: “Nếu ngươi không thả cho dân Ta đi, thì này Ta sẽ thả ruồi nhặng xuống trên ngươi và bề tôi ngươi, trên dân và cung điện của ngươi. Nhà cửa Aicập sẽ đầy ruồi nhặng, ngay cả đất đai nơi chúng ở cũng thế.”

9. Con cáo

Cáo là loài nhỏ nhất thuộc họ chó. Cáo có bộ lông dày, đôi tai hình tam giác và chiếc đuôi dài rậm lông. Chúng là một trong những loài chạy nhanh, và tốc độ có thể đạt 30 dặm một giờ.

44 động vật trong kinh thánh - con cáo

Vào thời Kinh thánh, Cáo là loài vật gây một số phiền toái. Chúng đã gây ra nhiều thiệt hại cho các vườn nho (nơi trồng nho). Các tháp canh được đặc biệt xây dựng trong vườn nho để đuổi Cáo, vì chúng thích ăn nho. Chúng cũng thích ăn động vật, chim và các loại trái cây khác.

Kinh Thánh cho chúng ta biết Cáo được tìm thấy trên sa mạc và chúng sinh sống trong các hang hốc.

Cáo được biết đến là loài xảo quyệt hoặc ranh mãnh, có nghĩa là chúng là loài vật khôn lanh.

Mt 8, 20: Đức Giê-su trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

10. Con ếch / nhái

Vào thời Cựu Ước, có một người đàn ông với tước hiệu Pharaô, là vua của Ai Cập. Ông ta cố gắng giữ dân của Môsê ở lại trong đất nước của mình, và ông sẽ không để họ rời đi. Đức Chúa bảo Môsê truyền cho Pharaô một thông điệp: nếu ông không để dân của Môsê đi, thì Đức Chúa sẽ gửi một bầy ếch nhái nhảy lên lan tràn mặt đất.
Nhà vua không nghe theo Môsê, vì vậy Đức Chúa đã sai hàng triệu con ếch nhái lan tràn khắp cả nước. Ếch nhái nhảy loạn ở khắp mọi nơi, ngay cả trên giường của người dân. Kinh Thánh cho chúng ta biết về điều này trong Tv 105: 30.

44 động vật trong kinh thánh - con ếch nhái

Ếch, Nhái thích sống ở những nơi ẩm ướt, có nước. Cơ thể chúng hấp thụ nước qua da. Một số loài Ếch sống trên cây, nhưng hầu hết sống gần nước. Ếch, Nhái ăn côn trùng, sâu bọ và nhện. Lưỡi Ếch được bao phủ bởi một chất dính giúp chúng bắt mồi.

Một số loài Ếch không có độc, có nghĩa là chúng có thể ăn được. Người ta vẫn ăn đùi Ếch, và món thịt Ếch được phục vụ trong một số nhà hàng.

Xh 8, 1-2: “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê : ‘Hãy nói với Aharon: Anh hãy cầm gậy giơ tay trên sông ngòi và hồ ao, làm cho ếch nhái ngoi lên trên đất Aicập.’Ông Aharon giơ tay trên mặt nước của Aicập và ếch nhái ngoi lên, lan tràn khắp đất Aicập.”

11. Con chim ó / kềnh kềnh

Chim Ó là một loài chim lớn trông tương tự như Đại Bàng. Nó có đôi chân chắc chắn, khỏe mạnh và đôi cánh lớn. Khi bay, nó trông giống như một con chim Ưng. Nó còn được gọi là lammergeir (hoặc Kền Kền râu), Kền Kền Ai Cập, hoặc chim Ưng. Trong Sách Lêvi và Sách Đệ Nhị Luật của Cựu Ước, chúng được liệt vào loài chim ô uế, và không được ăn.

Kền Kền Ai Cập, chim Ó (lammergeir) và chim Ưng đều thuộc họ Kền Kền. Chúng giúp hạn chế bệnh tật bằng cách ăn thịt động vật chết. Chúng xác định vị trí của những sinh vật chết này bằng cách sử dụng khứu giác nhạy bén.

Đnl 14, 17: “…bồ nông, ó, cốc…”

12. Con dê

Dê là một loài vật quan trọng trong thời Kinh Thánh. Người ta bán Dê để lấy tiền, ăn thịt Dê, uống sữa Dê và dùng Dê làm vật hiến tế (dâng cúng) cho Đức Chúa.

Ai càng sở hữu nhiều Dê, người đó càng giàu có. Có những người sở hữu đàn Dê rất lớn, lên tới hàng nghìn con.

Đôi khi, Dê là một phần lớn hơn trong đàn Cừu của người chăn Cừu. Người chăn Cừu đã lùa Dê đi trước Cừu, và những con vật này được đưa đến đồng cỏ để ăn. Trong tự nhiên, Dê hoang dã sống ở vùng đồi núi, hoặc ở những nước có nhiều núi đá.

Da Dê có một số công dụng rất tốt. Dùng da Dê làm túi đựng rượu hoặc dùng để làm gối (1Sm 19:13). Người ta cũng làm áo khoác và thảm từ da Dê. Sữa Dê là thức uống yêu thích, pho mát và bơ được làm từ sữa Dê. Vào thời Kinh Thánh, Dê cũng được tặng làm quà.

Cn 27,26: “thì chiên sẽ cho con có áo che thân, dê sẽ giúp con có tiền tậu ruộng”

13. Con thỏ rừng

Thỏ rừng, một thành viên của họ Thỏ, chỉ được nhắc đến hai lần trong Kinh thánh (một lần trong sách Lêvi và một lần trong sách Đệ nhị luật). Từ gốc tiếng Do Thái mà Môsê sử dụng thực sự có thể ám chỉ một loài động vật không còn tồn tại, nhưng những người dịch nó sang tiếng Anh đã sử dụng “hare” vì đó là ý nghĩa của nó.

Con Thỏ rừng là một con vật ô uế mặc dù chúng là động vật nhai lại, nhưng chúng không có móng chân chẻ đôi. Nhai lại có nghĩa là động vật nhai thức ăn, nuốt và tiêu hóa một phần trong dạ dày. Sau đó, thức ăn đó được chúng ợ lên, đưa trở lại miệng, nơi con vật nhai lần thứ hai và sau đó nuốt chúng để tiêu hóa hết trong dạ dày.

Thỏ rừng có rất nhiều ở các vùng đất trong Kinh Thánh, nơi có nhiều sa mạc.

Lv 11, 6: “con thỏ rừng, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là ô uế.”

14. Con chim ưng

Kinh Thánh cho chúng ta biết chim Ưng là loài vật ô uế, không được ăn thịt. Chim Ưng có một cái mỏ cong và khỏe, và những móng chân mạnh mẽ, được gọi là móng vuốt. Chúng là loài ăn thịt và ăn các loài gặm nhấm nhỏ, bò sát và côn trùng. Chúng là loài có giọng rất lớn, vang và sắc.

Chim Ưng làm tổ trên các mỏm đá cao, hoặc trên ngọn cây, an toàn trước những kẻ săn mồi.

Trong Kinh Thánh, chim Ưng là biểu tượng của sự nhanh nhẹn. Chúng có thể bay rất cao và nhanh, và chúng cũng có thị lực tuyệt vời.

G 39, 26: “Có phải nhờ trí tuệ của ngươi mà chim ưng bay được, sải cánh hướng về phương nam?”

15. Con diệc

Trong Sách Lêvi của Cựu Ước, chúng ta được biết Diệc là loài chim ô uế và không được dùng làm thức ăn.

Diệc là một loài chim lội nước, chân cao trông giống như Hạc, nhưng nhỏ hơn. Chúng sống ở những nơi đầm lầy và trên các bãi bùn. Chúng là một loài chim được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới.

Một trong những loài Diệc nổi tiếng nhất được gọi là Diệc xanh lớn. Loài chim này dài 3 feet, và khi dang rộng đôi cánh, chúng rộng gần 6 feet.

Có mười loại Diệc khác nhau ở các vùng đất trong Kinh Thánh.

Lv 11, 13-19: “…cú vọ, cóc, cú mèo, chim lợn, bồ nông, ó, cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi.”

16. Con ngựa

Vào thời Kinh Thánh, Ngựa được sử dụng hầu hết các vị vua và các chiến binh sử dụng trong trận chiến. Chúng cũng được sử dụng để kéo xe. Đây là loại xe hai bánh mà các vị vua và những nhân vật quan trọng khác ưa thích đi.

Con Ngựa đã trở thành biểu tượng của quyền lực trong thời Kinh Thánh, và để mua một con Ngựa thì phải tốn rất nhiều tiền, đặc biệt nếu mua kèm với một cỗ xe. Ngựa là loài vật có chân chắc chắn, vì vậy chúng rất hữu ích cho các trận chiến. Tuy nhiên, không được cưỡi chúng ở những nơi nhiều đá, vì vào thời Kinh Thánh, chưa có móng ngựa để bảo vệ chân cho chúng. Trong trận chiến, Ngựa được bảo vệ bằng áo giáp, và chúng được chuẩn bị và huấn luyện cho chiến tranh. Thông thường thì chúng được trang trí bằng những chiếc chuông trên cổ.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Ngựa nhanh hơn Đại Bàng và chúng cũng được dùng để gửi thông điệp. Vua Solomon, một vị vua rất giàu có, có 4.000 chuồng ngựa và xe ngựa.

Is 63, 13: “Đấng cho họ đi qua giữa lòng vực thẳm, như ngựa đi trong sa mạc hoang vu? Họ đã không vấp ngã.”

17. Con linh cẩu

Một số chỗ trong Kinh thánh, Linh Cẩu được gọi là “con thú hoang”. Chúng là loài vật có khuôn mặt của một con chó, tai tròn như gấu túi và có thân hình giống như một con báo.

Linh Cẩu là động vật ăn thịt, chúng ăn thịt các động vật khác để tồn tại. Chúng săn mồi vào ban đêm, ăn thịt các động vật có móng. Chúng sử dụng bộ răng hàm mạnh mẽ của mình để nghiền nát xương của con mồi.

Giống Linh Cẩu được biết đến nhiều nhất là Linh Cẩu đốm hay còn gọi là Linh Cẩu cười. Chúng được gọi như vậy vì tiếng kêu của nó, nghe giống như một người đang cười.

Is 13, 22: “Linh cẩu gọi nhau trong các cung điện, chó rừng trong các lâu đài giải trí của thành. Thời của nó đã gần đến, ngày của nó sẽ chẳng kéo dài.”

18. Con sơn dương

Sơn Dương là một loại dê hoang dã. Chúng là một loài động vật mạnh mẽ với thân hình rắn chắc và đôi chân dài. Chúng sống ở những nơi núi đá cao. Chúng có màu xám nâu, sừng lớn và cong. Sơn Dương là một loài vật có khả năng nhảy rất tốt, có thể nhảy khoảng cách rất xa.

Trong quá khứ, Sơn Dương bị săn bắt rất nhiều nên hiện nay đã có luật bảo vệ, tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

Tv 104, 18: “Núi chon von, loài sơn dương tìm đến, hốc đá sâu, giống ngân thử ẩn mình.”

19. Con diều hâu

Diều Hâu là loài chim có đôi cánh dài, mảnh và chiếc đuôi dài trông giống như chim Ưng. Chúng là một loài ăn xác thối, và ăn những phần còn sót lại của động vật chết.

Sách Lêvi cho chúng ta biết Diều Hâu là loài chim ô uế và không được ăn. Có một câu Kinh Thánh khác trong sách Đệ Nhị Luật 4:13, một lần nữa cho chúng ta biết loài chim này không thích hợp để ăn.

Diều Hâu làm tổ trên những cành cây cao. Đôi khi nó làm tổ trên cây ngay sát mặt nước. Diều Hâu thích khí hậu ấm áp và sinh sống mọi nơi trên khắp thế giới. Nhiều loại Diều Hâu khác nhau được tìm thấy ở các vùng đất trong Kinh Thánh, phổ biến nhất là Diều đen, Diều đỏ và Diều mỏ vàng.

Đnl 14, 13: “diều mướp, kền kền, mọi thứ diều hâu.”

20. Con chiên

Kinh Thánh cho chúng ta biết Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”.

Con Chiên là một con cừu non. Chúng được bảo vệ và chăm sóc bởi người mục tử. Cũng giống như trong thời Kinh Thánh, ngày nay chúng ta vẫn có những người làm nghề chăn chiên. Những người chăn Chiên ngày nay có thể ăn mặc khác biệt so với những người trong thời Kinh Thánh. Nhưng công việc của họ vẫn giống nhau: họ chăm sóc đàn cừu, đảm bảo đàn cừu được ăn uống đầy đủ, và được bảo vệ an toàn khỏi những kẻ săn mồi.

Chúa Giêsu là người mục tử chăn dắt chúng ta và chúng ta là chiên của Người. Người yêu thương, chăm sóc, và trông coi chúng ta, giống như một người chăn cừu trông coi đàn chiên của mình. Trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 21,15) Chúa Giêsu nhắc các môn đệ của Người “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.”. Qua lời này, Người muốn nói rằng họ phải đi rao giảng Tin Mừng cho khắp muôn dân, để muôn dân biết rằng Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ.

Ga 21,15: “Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.”

21. Con báo / beo

Báo Hoa Mai là một loài thuộc họ mèo. Chúng là loài động vật lớn, dài khoảng 4 feet. Chúng có màu nâu và có những đốm đen. Một số con báo có màu đen hoàn toàn; chúng được gọi là “báo đen.”

Trước đây, đã từng có rất nhiều Báo Hoa Mai sống trong vùng đất Kinh Thánh, nhưng ngày nay số lượng bị giảm sút do có nhiều người săn bắn chúng.

Báo Hoa Mai là một loài leo trèo giỏi, thậm chí chúng còn có thể trèo cây để săn con mồi.

Kinh Thánh cho chúng ta biết con Báo là loài ăn thịt, hung dữ và nhanh nhẹn. Chúng sống ở các khu vực miền núi, theo dõi và chờ đợi để tấn công con mồi.

Is 11, 6: “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng.”

22. Con thằn lằng

Cũng như ngày nay, Thằn Lằn là loài rất phổ biến ở các vùng đất trong Kinh Thánh. Chúng được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới, khắp những vùng có khí hậu ấm áp. Thằn Lằn có chân ngắn, da có vảy, và hầu hết đều có đuôi dài. Đuôi của một số loài thằn lằn có thể tách ra khỏi cơ thể chúng một cách dễ dàng. Điều này giúp chúng trốn thoát khỏi kẻ săn mồi. Nếu một chiếc đuôi bị đứt, có thể dễ dàng mọc lại một chiếc đuôi mới.

Sách Lêvi trong Cựu Ước cho chúng ta biết Thằn Lằn là một con vật ô uế, và không được ăn chúng.

Thằn lằn là loài động vật rất thú vị. Chúng có thể thay đổi màu sắc để hòa hợp với khu vực chúng sinh sống. Nếu chúng sống trong một khu vực có cây cối, chúng sẽ chuyển sang màu xanh. Nếu chúng sống trong sa mạc, chúng có thể sẽ chuyển sang màu nâu.

Thằn Lằn có mí mắt có thể di chuyển được, còn màng nhĩ thì lại nằm bên ngoài cơ thể.

Lv 11,30: “tắc kè, kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, thạch sùng.”

23. Con chuột chũi

Trong Kinh Thánh, Sách Lêvi nhắc đến Chuột Chũi là một loài vật ô uế. Vào thời Kinh Thánh, thực tế là không có Chuột Chũi sống ở những khu vực đó, và từ “mù tịt” rất có thể ám chỉ Chuột Chũi. Những người làm nông nghiệp hoặc trồng trọt không thích Chuột Chũi. Chúng đào hang bên dưới mặt đất và phá hoại mùa màng. Chúng có một chiếc mũi nhọn, giúp chúng đào đất. Chúng dường như không có mắt, vì mắt chúng được bao phủ bởi lớp da. Chúng cũng không có tai ở bên ngoài cơ thể.

Is 2, 20: “Ngày đó, con người sẽ ném cho chuột chù, cho dơi những tà thần bằng bạc, tà thần bằng vàng của họ mà họ đã làm ra để thờ.”

24. Con chuột

Theo luật Cựu Ước (Lv 11:29), Chuột là một loài vật ô uế.

Chuột sống ở khắp nơi trên thế giới. Một số sống dưới đất, một số sống trên mặt đất, và một số sống trên cây. Chúng ăn hạt, cỏ và trái cây.

Vào thời Kinh Thánh, Chuột là một vấn đề rắc rối lớn. Bởi vì chúng sẽ phá hủy phần lớn mùa màng ngũ cốc. Ngoài ra, các ngôi nhà vào thời Kinh Thánh không được cửa đóng then cài chặt chẽ như nhà ngày nay, và những loài gặm nhấm này có thể dễ dàng lẻn vào nhà của con người. Vào thời Kinh Thánh cũng không có những người chuyên làm công việc thu gom rác như ngày nay, và rác chất thành đống dọc đường phố, có khả năng thu hút chó, chuột, chuột cống và các động vật khác. Chuột là loài dễ gây lây lan bệnh dịch.

Kinh thánh cho chúng ta biết thịt Chuột bị cấm sử dụng làm thức ăn, nhưng có một số người Israel đã ăn chúng.

Is 66, 17: “Những kẻ tự thánh hiến và tự thanh tẩy để vào các khu vườn sau một người đứng ở giữa, những kẻ ăn thịt heo, thịt các thú vật kinh tởm và thịt chuột, đều sẽ chết cả lũ – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.”

25. Con chim ăn đêm / cú

Trong Cựu Ước (Đnl 14:15), chúng ta thấy rằng chim Ăn Đêm là loài chim ô uế, và không được ăn thịt.

Chim Ăn Đêm là một loài chim có cánh dài và đuôi dài, với cái đầu lớn và đôi mắt to. Tên của chúng được đặt bởi đặc tính hoạt động, đi săn mồi về đêm. Chúng ăn côn trùng mà chúng bắt được lúc ban đêm. Chúng có màu đen, xám và nâu có lốm đốm.

Khi săn mồi, chúng thường bay lên cao và lao xuống rất nhanh, sà vào túm chặt con mồi.

Đnl 14, 15: “đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt”

26. Con chim ưng biển / chim ó cá

Chim Ưng biển là một loài chim lớn, ăn cá và là một trong những loài chim săn mồi, chẳng hạn như Đại Bàng và Diều Hâu. Trong Cựu Ước (Lv 11:13) chim Ưng biển được liệt vào loài chim ô uế, không được ăn.

Chim Ưng biển sống gần nước và ăn cá. Để bắt được con mồi, chúng bay lướt trên mặt nước và sà xuống bắt cá bằng bộ móng vuốt mạnh mẽ của mình.

Chim Ưng biển có màu nâu sẫm, với màu trắng ở mặt dưới. Chúng xây những tổ lớn trên cây hoặc trong vách đá.

Lv 11,13: “Trong các loài chim, đây là những loài các ngươi phải coi là kinh tởm: người ta không được ăn, vì là loài kinh tởm: đại bàng, diều hâu, ó biển.”

27. Con đà điểu

Đà Điểu là loài lớn nhất trong số các loài chim ngày nay, nhưng chúng không biết bay, mặc dù có cánh và lông. Chúng có thể nặng tới 350 pound và cao khoảng 8 feet.

Đà Điểu là loài động vật chạy rất nhanh. Chúng có thể đạt vận tốc khoảng 40 dặm một giờ. Đà Điểu thích khí hậu ấm áp như sa mạc, đó là khí hậu của các vùng đất trong Kinh Thánh.

Đà Điểu đẻ trứng trên cát, nhưng chúng rất dễ bị vỡ hoặc bị giẫm vỡ. Kinh Thánh (G 39:16) cũng cho chúng ta biết Đà Điểu không phải là loài chim khôn ngoan.

Ac 4, 3: “Ngay cả lũ chó rừng y cũng biết chìa vú cho con bú, thế mà con gái dân tôi lại dữ dằn hung bạo, như đà điểu chốn hoang địa khô cằn.”

28. Con chim cú

Chim Cú là loài được tìm thấy trên khắp thế giới. Chúng có đôi mắt lớn, nhưng phải di chuyển cả đầu để nhìn sang trái hoặc phải. Chúng có thể quay đầu một góc đủ rộng để nhìn thấy phía sau.

Chúng có bộ lông mềm, cánh lớn và có nhiều màu: trắng, nâu, nâu vàng và nâu đỏ.

Cú là động vật thường sống đơn độc (loài vật thích ở một mình). Mặc dù những loại Cú được tìm thấy trong hang hay trong chuồng thường sống thành từng nhóm, hoặc từng gia đình. Chúng là loài ăn đêm và thức khuya để săn mồi. Chúng ăn cá, động vật có vú nhỏ, côn trùng và các loài chim khác.

Kinh thánh cho chúng ta biết loài Cú có giọng buồn thảm, cẩn thận chăm sóc con non và thường sống trong những ngôi nhà và thành phố hoang vắng. Chúng cũng là một loài chim ô uế, và không được ăn thịt chúng.

Tv 102, 7: “Con chẳng khác bồ nông miền sa mạc, tựa như cú vọ chốn hoang tàn.”

29. Con châu chấu

Châu chấu không thực sự là một loài sâu, mà thay vào đó chúng là hình thức non của một con cào cào, trông giống như một con sâu. Khi , cào cào con trưởng thành hoàn toàn, chúng sẽ trông giống như một con châu chấu.

Ngày nay người ta vẫn chưa biết đến loài (palmerworm), và rất có thể đây là một cái tên được sử dụng trong thời gian trước đó.

Trong một số thủ bản Kinh Thánh, từ “cào cào” được sử dụng thay vì Châu Chấu (palmerworm).

Am 4, 9: “Ta đã đánh phạt các ngươi, khiến đồng lúa các ngươi bị úa vàng và sâu đục; bao vườn cây, vườn nho của các ngươi, những cây ô-liu và cây vả, đều bị châu chấu cào cào ăn sạch; thế mà các ngươi vẫn không chịu trở về với Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.”

30. Con chim công

Chim Công là một loài của họ chim Trĩ. Chim Công trống có bộ lông sặc sỡ màu xanh lam và xanh lục. Chim Công cái không có màu sắc rực rỡ như chim trống.

Chim Công có tiếng hót sắc sảo, cao vút. Chúng ăn sâu, hạt, côn trùng và các loài rắn nhỏ.

Chim Công không phải là loài chim bản địa của vùng đất Kinh Thánh. Kinh Thánh cho chúng ta biết chúng đến bằng tàu chở hàng của Vua Salômôn, một vị vua trị vì vào thời Kinh Thánh.

1V 10, 22: “Quả vậy, vua Sa-lô-môn có một đoàn tàu biển đi Tác-sít, cùng với đoàn tàu của vua Khi-ram; và cứ ba năm một lần, đoàn tàu Tác-sít đến, mang theo vàng, bạc, ngà, khỉ và công.”

31. Con bồ nông

Bồ Nông là một loài chim ăn cá và được tìm thấy ở những vùng khí hậu ấm áp trên thế giới. Chúng sinh sống gần các đại dương, sông và hồ. Thức ăn chủ yếu là cá. Chúng là một loài chim lớn với chiếc mỏ rất dài. Chúng có một cái miệng giống cái túi lớn, dùng để bắt cá. Chúng có thể dự trữ cá trong túi cho đến khi ăn, và túi của nó có thể chứa một lượng cá rất nặng. Chúng cũng lấy cá trong túi ra để cho Bồ Nông con ăn. Loài chim này cũng được biết đến là tự mình ăn cá cách nhồi nhét, và sau đó đi đến một nơi vắng vẻ để nghỉ ngơi trong vài ngày. Sách Lêvi ( Lv11:18) trong Cựu Ước cho chúng ta biết rằng Bồ Nông là loài ô uế và không được ăn.

Lv 11, 18: “chim lợn, bồ nông, ó”

32. Con dê rừng

Ngày nay người ta hiếm khi nghe nói đến Dê rừng (pygarg), nhưng vào thời Kinh Thánh, đó là một loài dê hoang dã, có râu. Chúng được đề cập trong Cựu Ước như một loài vật có thể ăn thịt được. Trong nhiều thủ bản Kinh Thánh, cụm từ Dê rừng được dùng thay cho pygarg.

Pygarg sống ở các vùng sa mạc và có thể sống trong một thời gian dài mà không cần nước. Chúng có móng rộng, giúp chúng có thể đi trên cát mà không bị lún sâu. Ngày nay loài này gần như tuyệt chủng.

Đnl 14, 4-5: “Đây là những loài vật anh (em) được ăn : bò, cừu, dê, nai, sơn dương, hoãng, dê rừng, linh dương, dê sừng dài, cừu rừng.”

33. Con chim cút

Chim Cút là một loài chim mập mạp, trông giống như Gà Gô. Vào thời Cựu Ước, Đức Chúa đã ban cho Môsê và dân Israel chim Cút để ăn, vì họ đã trải qua nhiều năm đi khắp các sa mạc và rất cần thức ăn. Chim Cút được ăn với Manna, một loại thực phẩm khác cũng được Đức Chúa ban cho dân chúng ăn. Đó là một chất giống như sương mà Đức Chúa rơi xuống trên mặt đất. Dân chúng sẽ thu lượm để ăn (Ds 11: 31-32; Tv 105: 40).

Chim Cút ăn côn trùng, ngũ cốc và quả mọng. Ban ngày, chúng im lặng, dành thời gian trên mặt đất và bên dưới bụi cây.

Họ sống theo từng gia đình được gọi là ổ chim.

Tv 105, 40: “Họ đòi ăn, Người cho chim cút đến, và cho họ no nê bánh bởi trời.”

34. Con cừu đực

Cừu đực là loài có bộ sừng mạnh mẽ. Vào thời Kinh Thánh, sừng của một con Cừu đực thường được dùng làm tù và. Ngoài ra, da của những con vật này đã được sử dụng để làm mái của Nhà Tạm. Nhà Tạm là lều thiêng mà Đức Chúa muốn Môsê dựng cho dân Người dùng để thờ phượng.

Trong Cựu Ước có một câu chuyện về một người tên là Ápraham. Ápraham rất kính sợ Đức Chúa và vâng lời Người. Một ngày nọ, Đức Chúa đã thử thách đức tin của Ápraham. Người yêu cầu Ápraham dâng chính con trai duy nhất của mình là Isaac làm của lễ. Ngay khi Áp-ra-ham sẵn sàng vung dao để sát tế con trai mình cho Đức Chúa, thì có một thiên sứ của Chúa từ trời gọi Ápraham và bảo ông hãy để cậu bé đi. Sau đó, Ápraham nhìn thấy một con Cừu đực bị mắc kẹt trong một bụi rậm. Đức Chúa đã ban con Cừu đực để Ápraham dùng làm của lễ thay vì con trai ông. Ápraham tạ ơn và Đức Chúa hài lòng vì lòng tin của ông đối với Người.

Tv 114, 4: “Ví tựa bầy chiên, núi đồi nhảy nhót, như thể đàn cừu, gò nổng tung tăng.”

35. Con bọ cạp

Bọ Cạp được tìm thấy ở những nơi có khí hậu khô và ấm. Chúng có một cái đuôi dài, và uốn cong về phía trước khi sẵn sàng chích nọc độc. Bọ cạp chích con mồi và sau đó ăn thịt nó. Chúng cũng chích đối phương để tự vệ. Vết chích của Bọ Cạp gây đau đớn và đôi khi có thể gây nghiêm trọng tới mức tử vong.

Kinh Thánh đề cập đến Bọ Cạp nhiều lần và chúng luôn tượng trưng cho sự gian ác. Bọ Cạp thích những nơi khô ráo, ấm áp, vì vậy có lẽ đã xuất hiện rất nhiều ở những vùng đất trong Kinh Thánh. Có câu chuyện trong Kinh Thánh kể về việc Chúa Giêsu quy tụ một số lượng lớn các môn đệ. Người đã sai họ đi từng hai người một đến các thành phố và làng mạc khác nhau để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu ban cho họ quyền trên rắn rết và bọ cạp để họ không bị chúng làm hại.

Ngày nay, Bọ Cạp vẫn sống ở vùng đất sa mạc. Chúng là loài ăn đêm, ăn nhện và côn trùng.

Lc 10, 19: “Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.”

36. Con chim sẻ

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa quan phòng, chăm sóc đến những loài chim nhỏ bé như chim Sẻ, và Người biết mọi điều xảy ra với những sinh vật này, ngay cả khi chúng rơi xuống đất.

Thiên Chúa cho chúng ta biết chúng ta còn quan trọng hơn nhiều so với chim Sẻ (Mt10: 29-31). Thậm chí Thiên Chúa còn biết chúng ta có bao nhiêu sợi tóc trên đầu.

Chim Sẻ là một loài chim phổ biến trong thời Kinh Thánh. Ngày nay, chúng vẫn còn sống ở các vùng đất trong Kinh thánh. Chúng là một loài chim nhỏ, có lông màu xám / nâu. Chúng ăn các loại hạt, trái cây và côn trùng trên hoặc gần mặt đất. Chúng làm tổ trên mặt đất hoặc trong bụi cây.

Vào thời Kinh Thánh, những người rất nghèo sẽ dâng chim Sẻ như một của lễ cho Đức Chúa, vì họ không thể mua cừu hoặc các động vật khác làm lễ vật.

Mt 10, 29-31: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.”

37. Con chim én

Chim Én là một loài chim có đôi cánh dài và nhọn. Chúng là một loài chim di cư, bay rất khỏe, và chúng dành một khoảng thời gian trong năm để ở vùng đất Kinh Thánh.

Từ câu Kinh Thánh trong Tv 84: 4, chúng ta biết chim Én là loài chim khôn ngoan, theo cách nó làm tổ cho chính mình và con non. Vào thời Kinh Thánh, chim Én là loài làm tổ bên trong đền thờ.

Chim Én ăn các loại sâu bọ gây hại, và các loại muỗi, rãn. Bằng cách ăn sâu bọ, chim Én giúp cây trồng khỏi bị phá hại.

Tv 84, 4: “Lạy Chúa Tể càn khôn là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ, ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm, cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con bên bàn thờ của Chúa.”

38. Con chim cu gáy

Chim Cu gáy (Turtledove) không liên quan gì đến Rùa (Turtle), thay vào đó nó là chim Cu gáy được đề cập trong Kinh Thánh. Chim Cu gáy là một loài chim trông giống Bồ Câu, nhưng nhỏ hơn. Chim Cu gáy thường được dùng làm của lễ để dâng trên bàn thờ cho Đức Chúa trong thời Cựu Ước. Những người nghèo không thể mua bất kỳ con vật nào khác để dâng tiến sẽ sử dụng chim Cu gáy để dâng lên Đức Chúa.

Trong Tân Ước (Lc 2:24), chim Cu gáy đã được dùng để làm của lễ dâng lên Thiên Chúa.

Chim Cu gáy đôi khi còn được gọi là chim Cu cườm. Chúng có màu vàng nhạt, rám nắng, với một vòng đen ở sau gáy.

Lc 2, 24: “và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non.”

39. Con rùa (rùa cạn)

Vào thời Cựu Ước, Rùa là loài phổ biến. Tuy nhiên, chúng là con vật ô uế, và không được ăn thịt.

Rùa sống ở vùng có khí hậu ấm áp. Chúng đẻ trứng, từ đó con cái của chúng nở ra. Có nhiều loại Rùa sống trên cạn. Một số loại có thể sống tới 100 năm, và chúng có nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau như xanh lá cây hoặc nâu.

Lv 11, 29: “Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế : chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ rùa.”

40. Con kỳ lân (trâu / bò rừng)

Kỳ Lân được đề cập đến trong một số thủ bản Kinh Thánh. Nhưng nó thực sự đề cập đến như một con Trâu/ Bò hoang dã. Ngoài Kinh Thánh, Kỳ Lân là một con vật hư cấu, được kể trong các câu chuyện thần thoại, hoặc truyện cổ tích. Kỳ Lân được cho là có màu trắng, với đầu và thân của một con Ngựa, có một cái sừng xoắn trên đầu. Các học giả Kinh Thánh không hoàn toàn chắc chắn về danh tính của Kỳ Lân trong Kinh thánh, nhưng nó chắc chắn là một con vật có thật. Cách giải thích thông thường cho rằng đây là một con Bò, hoặc có thể là một con Trâu rừng.

Một số con Bò hoang dã có một sừng, và một số có hai sừng. Kinh Thánh cho chúng ta biết loài vật này là một loài vật có sức mạnh lớn (G 39:11), và cũng rất khó bắt.

G 39, 10: “Liệu ngươi có buộc được dây vào cổ nó mà bắt nó đi cày, và liệu nó có chịu đi theo ngươi cày bừa dưới thung lũng?”

41. Con rắn độc

Trong Kinh thánh, Viper dùng để chỉ một loài rắn độc. Đầu của chúng rộng và hình tam giác. Nọc độc của chúng rất mạnh, ảnh hưởng đến máu và các mô của nạn nhân.

Có nhiều loại Rắn độc, và chúng sống chủ yếu ở Châu Âu, Châu Phi và Châu Á. Bắc. Trung Mỹ là nơi sinh sống của một loài rắn độc thường khiến chúng ta sợ hãi là rắn đuôi chuông. Có hai danh từ khác trong Kinh Thánh cũng dùng để chỉ Rắn là adder và asp.

Chúa Giêsu có một tông đồ tên là Phaolô. Phaolô đã ở trên một con tàu biển bị đắm, và cuối cùng ông trôi dạt đến một hòn đảo tên là Malta. Một ngày nọ, khi ở trên đảo, ông bị một con rắn cắn vào tay. Những người bản xứ nghĩ rằng Phaolô chắc chắn sẽ chết. Tuy nhiên, Phaolô đã giũ con rắn vào lửa và không hề hấn gì. Phaolô là một người vững tin vào Thiên Chúa. Người bản xứ tin rằng Phaolô là một người rất sùng đạo.

Cv 28, 3: “Ông Phaolô vơ được một mớ cành khô và đang bỏ vào lửa, thì một con rắn độc bị nóng bò ra, cuốn vào tay ông.”

42. Con kềnh kềnh

Theo Kinh Thánh Cựu Ước, Kền Kền là loài chim ô uế, và không được ăn thịt chúng.

Có một số loại Kền Kền khác nhau được đề cập trong Kinh Thánh. Loài phổ biến nhất ở vùng đất Kinh thánh là Kền Kền Griffon. Một loại khác là Kền Kền râu, là loài Kền Kền lớn nhất. Loài chim này còn được gọi là chim Ưng biển. Loài chim này sẽ thả xác động vật từ nơi cao xuống để nghiền nát xương của nó. Điều này giúp bạn dễ dàng ăn những miếng xương nhỏ hơn này. Chúng có cơ cổ họng mạnh mẽ để ăn loại thức ăn này. Kền Kền có tên gọi khác là Kền Kền Ai Cập, là loài nhỏ nhất trong các loại Kền Kền.

Kền Kền sống nhờ những con vật chết, đó là kết quả của sự Sa Ngã và Chúc Dữ. Trước thời điểm đó, Đức Chúa đã ban cho con người một thế giới hoàn hảo. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Kền Kền có thị lực tinh tường, và chúng luôn truy tìm con mồi.

Is 34, 15: “Đó còn là nơi rắn làm ổ đẻ trứng, ấp cho nở và ủ ấm đàn con. Cũng tại đó, lũ odiều hâu tụ tập, con nào cũng có bạn có đôi.”

43. Con chồn

Chồn là một loài động vật nhỏ, ăn thịt, họ hàng với chồn sương. Chúng có cổ dài, chân ngắn và cơ thể giống rắn. Chúng thường có màu nâu với mặt dưới màu trắng. Chúng là loài hoạt động về đêm và ăn chuột, thỏ, chuột cống, rắn, sâu bọ, côn trùng, chim và trứng.

Trong Cựu Ước, Chồn được coi là một con vật ô uế, vì nó là một trong những con vật lén lút trên trái đất. Trong thời Kinh Thánh cũng như ngày nay, Chồn không phải là một loài động vật quá phổ biến. Trên thực tế, Chồn thường được so sánh với những người lén lút làm những việc mà chúng không nên làm. Giống như một con Chồn luôn cố gắng ăn trộm thức ăn, vậy nên đôi khi con người cũng có những hành động thiếu trung thực.

Lv 11, 29: “Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế : chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ thằn lằn….”

44. Con cá voi

Có một câu chuyện trong Kinh Thánh kể về một ngôn sứ tên là Giôna và một con Cá Voi. Một ngày nọ, Đức Chúa bảo Giôna đến thành Ninive, nơi đầy rẫy những kẻ bất chính. Đức Chúa muốn Giôna nói với người dân ở Ninive rằng Đức Chúa sẽ phá hủy thành của họ nếu họ không ngừng gian ác.

Giôna đã không vâng lời Đức Chúa. Ông sợ hãi, và bỏ chạy xuống tàu đi đến một nơi gọi là Tácsít, hướng đến phía nam. Đức Chúa đã gửi một cơn gió mạnh đến trên biển, gây nguy hiểm cho Giôna và các thủy thủ khác trên tàu. Các thủy thủ tức giận khi biết Giôna đã chạy trốn khỏi Đức Chúa. Các thủy thủ nói với Giôna: “Vì ông là người đã đem tai hoạ này đến cho chúng ta”. Vì vậy họ ném ông xuống biển, và một con Cá Voi lớn đã nuốt chửng Giôna. Giôna ở trong bụng Cá Voi ba ngày ba đêm. Ông rất hối tiếc vì đã không vâng lời Chúa, vì vậy Chúa đã cứu ông bằng cách cho con Cá Voi đưa ông vào bờ an toàn.

Có những động vật khác trong Kinh thánh cũng dùng để chỉ cá voi, đó là: thủy quái, rồng và kình ngư.

Mt 12, 40: “Quả thật, ông Giôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy.”

 

  • Tác giả: Nancy Pelander Johnson
  • Hình minh họa: Lloyd R. Hight
  • Chuyển ngữ: Giuse Vũ Văn Tuyên

Cảm xúc của bạn như thế nào?
Thích
Thích
0
Yêu thích
Yêu thích
0
Haha
Haha
0
Wow
Wow
0
Buồn
Buồn
0
Phẫn nộ
Phẫn nộ
0

Bài viết liên quan

Back to top button
error: © Joseph Tuan

Adblock Detected

Hãy ủng hộ mình bằng cách tắt trình chặn quảng cáo nhé!